Truyền thống văn hóa rượu của người Việt và các tiêu chí đánh giá rượu ngon

 

1. Truyền thống văn hóa rượu của người Việt

Rượu xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử dân tộc

– Tìm về các thư tịch cổ cho thấy nhiều sách đã nhắc đến rượu như một phần của đời sống người Việt. Lĩnh Nam chích quái khẳng định rằng từ xa xưa, dân ta đã biết “lấy vỏ cây làm áo, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cá, tôm làm mắm…”.

– Nhiều tài liệu cũng cho rằng rượu đã có từ trước thời Hùng Vương và được nấu chủ yếu từ gạo. Hầu hết các thư tịch đều thống nhất rằng rượu trước hết được sử dụng trong các nghi lễ tế trời, tế đất và thờ cúng tổ tiên.

– Có sách còn ghi lại câu chuyện vua Lý Thái Tổ trong một lần tuần du, trước cảnh sông núi hữu tình đã lấy rượu khấn rằng:

“Nơi này cảnh đẹp, nếu có thần linh hạo khí thì xin nhận rượu của trẫm.”

Đêm ấy, vua nằm mộng thấy vị thần Lý Phục Man hiển linh. Điều đó cho thấy từ rất sớm, rượu đã được xem là lễ vật thiêng liêng trong tín ngưỡng dân gian.

 

Rượu xuất hiện trong nghi lễ và tín ngưỡng truyền thống

– Câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ” (không có rượu không thành lễ) đã trở thành quan niệm quen thuộc trong văn hóa Đại Việt từ khi Nho giáo phát triển mạnh. Thực tế, tư tưởng này đã xuất hiện từ rất sớm trong văn hóa Trung Hoa cổ đại.

– Chu Văn Vương từng nói:

“Tế tự thì dùng rượu. Trời xuống mệnh cho dân biết nấu rượu chỉ là dùng vào việc tế tự lớn.”

– Đối với người Việt, rượu được chưng cất từ gạo – loại lương thực quý từng được gọi là “ngọc thực” – kết hợp với men lá truyền thống. Qua thời gian, rượu được xem như tinh hoa của trời đất, là cầu nối giữa con người với thần linh.

Nhiều quan niệm còn cho rằng rượu hội tụ đủ Tinh – Khí – Thần:

  • Tinh là tinh chất của hạt gạo.
  • Khí là hơi rượu lan tỏa.
  • Thần là niềm vui và sự hưng phấn mà rượu mang lại.

– Chính vì vậy, rượu luôn hiện diện trên bàn thờ gia tiên. Câu ca: “Rượu ngon chắt để bàn thờ…”

thể hiện lòng thành kính của con cháu dâng lên tổ tiên những gì tinh túy nhất.

 

Rượu xuất hiện trong Tết và lễ hội dân gian

– Từ lâu, rượu đã trở thành một phần không thể thiếu trong Tết cổ truyền của người Việt.

– Rượu giúp mọi người gần gũi, gắn kết và tạo không khí vui vẻ trong những ngày đầu năm. Theo Tùy thư (Địa lý chí), trong thời Bắc thuộc, người Việt đã dùng rượu trong các lễ tế tổ tiên cũng như các trò chơi dân gian như: Chơi đu, ném còn, hát múa, kéo co,… Bên thắng cuộc sẽ được uống rượu như một phần thưởng, thể hiện tinh thần đoàn kết và niềm vui ngày hội.

 

Rượu xuất hiện trong phong tục cưới hỏi

– Trong phong tục cưới hỏi truyền thống, cùng với trầu cau, rượu là lễ vật không thể thiếu.

Ca dao xưa có câu:

“Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy…”

Trước khi về nhà chồng, cô dâu còn kính cha mẹ chén rượu chia tay:

“Rượu lưu ly chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.”

Trong lễ hợp cẩn, cô dâu và chú rể cùng uống chung chén rượu đào, cùng ăn chung đĩa cơm nếp để cầu mong cuộc sống vợ chồng thủy chung, son sắt và hạnh phúc bền lâu.

 

Rượu xuất hiện trong văn học và nghệ thuật Việt Nam

Không chỉ hiện diện trong đời sống thường nhật, rượu còn là nguồn cảm hứng bất tận của các tao nhân mặc khách.

Người quân tử xưa coi trọng thú vui “Cầm – Kỳ – Thi – Họa – Tửu”, mang theo “bầu rượu, túi thơ” để thưởng ngoạn non sông.

Nguyễn Trãi và hình tượng rượu

Trong thơ Nguyễn Trãi, rượu gắn với vẻ đẹp thiên nhiên:

“Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén.”

Hay:

“Túi thơ, bầu rượu quản xình xoàng…”

Ở đây, rượu không chỉ là thức uống mà còn là biểu tượng của nghệ thuật và tâm hồn.

Một câu thơ khác:

“Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền”

đã tạo nên bức tranh vừa thực vừa mộng giữa trăng, sông nước và men say thi ca.

 

Văn hóa uống rượu của Chủ Tich Hồ Chí Minh

– Nếu nói đến văn hóa uống rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu đáng trân trọng.

– Bác biết uống rượu nhưng luôn uống có chừng mực, coi rượu là phương tiện giao tiếp để câu chuyện thêm đầm ấm chứ không phải để say.

– Trong bài thơ Tặng đồng chí Trần Canh (1950), Bác chúc người bạn chiến đấu được say trong niềm vui chiến thắng.

Khi tuổi cao phải kiêng rượu, Bác vẫn “thưởng thức” trong thơ:

“Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần.”

Qua đó có thể thấy, với Bác Hồ, rượu không chỉ là thức uống mà còn là một nét đẹp văn hóa, gắn với sự tiết chế, giao lưu và tinh thần lạc quan.

 

2. Các tiêu chí đánh giá rượu ngon

Rượu có nhiều loại, ở nhiều nơi,…Nhưng nhìn chung, các tiêu chí để đánh giá rượu ngon, sạch, an toàn đều phải thỏa mãn những tiêu chí về: cảm quan, lý hóa, vi sinh vật và kim loại nặng.

Kiểm nghiệm rượu theo chỉ tiêu cảm quan

STT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức công bố
1 Thái thái Trong, không vẩn đục, không có cặn
2 Mùi Thơm, đặc trưng của nguyên liệu và sản phẩm lên men
3 Vị Không có vị lạ, êm dịu
4 Màu sắc Không màu hoặc trắng trong

 

Kiểm nghiệm rượu theo chỉ tiêu lý hóa

STT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức công bố
1 Hàm lượng methanol trong 1l ethanal 1000 không lớn hơn % 0.1
2 Hàm lượng Ethanol ở 200C % Theo tiêu chuẩn đã được công bố của nhà sản xuất
3 Hàm lượng este không lớn hơn % 200
4 Hàm lượng Aldehyde trong 1l rượu 10000 không lớn hơn % 50

 

Kiểm nghiệm rượu theo chỉ tiêu vi sinh

STT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức tối đa
1 Tổng số vi sinh vật hiếu khí CFU/ml 1000
3 Escherichia coli MPN/ml 0
4 Clostridium perfringens CFU/ml 0
6 Tổng số bào tử nấm mốc– men CFU/ml 102

 

Kiểm nghiệm rượu theo hàm lượng kim loại nặng

STT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức tối đa
1 Pb (Chì) mg/l 0,5
2 Đồng (Cu) mg/l 5,0
3 Asen mg/l 0,2
4 Kẽm (Zn) mg/l 2,0
5 Thủy ngân (Hg) mg/l 0,05
6 Cadimi (Cd) mg/l 1

Ngoài kiểm nghiệm rượu theo các chỉ tiêu kể tên còn có thể kiểm nghiệm theo một số chỉ tiêu khác như: Hàm lượng hóa chất không mong muốn: dư lượng thuốc thú y, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các hợp chất khác phù hợp theo Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT ngày 19/1 12/2007 của Bộ Y tế và các quy định hiện hành.

Bài Viết Liên Quan